Defensive-Fighting Club

VỚI DFC NIỀM ĐAM MÊ VÕ THUẬT LÀ BẤT TẬN.
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Kendo - Tinh hoa kiếm thuật Nhật Bản

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
ThienLong9x
Thống Lĩnh
Thống Lĩnh


Tổng số bài gửi : 26
Điểm : 66
Join date : 30/06/2011

Bài gửiTiêu đề: Kendo - Tinh hoa kiếm thuật Nhật Bản    Fri Jul 01, 2011 10:50 am

Nếu bạn đã có dịp xem biểu diễn môn Kendo, thấy các vận động viên này mặc võ phục phức tạp, nhưng khi thi đấu chỉ huơ huơ mấy cái là xong, chắc bạn sẽ vô cùng thắc mắc, không hiểu nghĩa lý ra sao. Vâng, chỉ có những người "trong nghề" mới biết thôi. Không biết, xem chán lắm. Kendo là môn kiếm thuật tinh hoa của nước Nhật. Hiện có 7 triệu người Nhật theo học môn này tới nơi tới chốn và có hàng triệu người khác trên thế giới luyện tập nó.


Kendo tạo nên những hiệp sĩ
Kendo, nghĩa là "kiếm đạo". Người học Kendo nhằm một lẽ đạo cao hơn là chỉ tập luyện kỹ thuật sát thủ. Bởi vậy ngay khi nhập môn , người võ sinh Kendo được truyền dạy 5 đức tính:
- Nhân đức: học Kendo để thực hiện mục tiêu nhân đức, tự cảm hóa và cảm hóa người khác thành người nhân hậu.
- Công bằng chính trực: bênh vực những kẻ cô thế, tôn trọng lẽ phải, công bằng.
- Tư cách cao thượng: giữ mình ở bên trên những hận thù nhỏ nhen.
- Trí tuệ minh mẫn: nhận định được lẽ phải và sự tốt đẹp ở đời.
- Trung tín: luôn luôn có lòng trung thành với mục tiêu cao cả, với đạo lý và giữ chữ tín ở đời.

Qua hơn 8 thế kỷ, môn Kendo ở Nhật đã đào tạo những anh hùng lừng danh của đất nước, những "võ sĩ đạo" mà nếu chúng ta không hiểu lý tưởng của họ, cứ ngỡ họ là những sát thủ lạnh lùng.

Một kiếm sĩ Kendo thượng thừa dường như không bao giờ tuốt kiếm ra khỏi vỏ. Chỉ nhìn tư cách của họ, kẻ đối diện thường bị khuất phục. Lúc chẳng đặng đừng, một kiếm sĩ Kendo thượng thừa chỉ vừa tuốt kiếm ra khỏi vỏ, thậm chí chưa ra hêt khỏi vỏ, đối phương đã có thể ngã gục. Đường kiếm nhanh hơn cả tia chớp.

Kendo - học suốt đời
Kendo không có đẳng cấp đai đen đai nâu. như các môn võ khác. Chỉ khi nào võ sĩ Kendo vung kiếm, nghe tiếng gió của kiếm lướt đi, thì người trong nghề mới biết trình độ của võ sĩ ấy. Càng ở đẳng cấp cao, các võ sĩ Kendo càng thủ thế lâu và lặng lẽ. Đường kiếm chỉ vung lên trong tích tắc, và là đường kiếm quyết định trận đấu! Thành thử võ sĩ Kendo phải học suốt đời cho đường kiếm luôn "nhanh hơn".

Do tính chất cực kỳ nguy hiểm như thế, nên khi thi đấu giao hữu, võ sĩ Kendo phải dùng kiếm tre và mặc võ phục đặc biệt:
- Mũ trùm đầu bằng kim loại, có mạng che mặt và cổ.
- Áo che ngực đan bằng tre có da phủ ngoài.
- Bao tay độn dày để bảo vệ bàn tay và khuỷu tay.
- Y phục bằng vải đệm có lót bông.

Một bộ võ phục Kendo giá tương đương.. 100 triệu đồng VN, được các võ đường sắm và cho võ sinh thuê. Người ta kể rằng, khi gặp quân thù, kiếm sĩ Kendo chỉ lướt tới, rút kiếm ra nửa chừng bao kiếm, thì kẻ thù đã lìa đầu.
Các huyền thoại như thế làm cho Kendo trở thành một môn võ hết sức được xem trọng tại Nhật và nhiều nước khác.
Kiếm thuật Đông Doanh (Nhật Bản)

kendo : Kiếm đạo
kenjutsu : Kiếm thuật
iaido : Cư hợp đạo

Khởi đầu chỉ có kiếm thuật hay Kenjutsu, là nghệ thuật đánh kiếm, dù thật sự từ để chỉ kiếm Nhật là katana 刀 chính là từ "đao" trong tiếng Hán để chỉ các loại vũ khí một lưỡi sắc bén. Còn chữ Hán kiếm (tiếng Nhật ken) 剣 hay 劍 là để chỉ các vũ khí hai lưỡi . Sau thời đại Kiếm Thương, hết đánh đấm nên kiếm thuật dần dần biến thành kiếm đạo, và người thực tập kiếm đạo chú trọng luyện tinh thần cũng ngang bằng hoặc hơn cả luyện tập thuật đánh kiếm. Iaido đúng ra cũng là một phần của kendo, chuyên luyện phép đánh kiếm thần tốc: rút kiếm ở mọi tư thế và chém rất nhanh một nhát chí tử trước khi đối thủ kịp phản ứng, rồi rảy máu ở thanh kiếm, và tra kiếm vào vỏ.

Sau khi Nhu đạo phát triển vào thế kỷ 20, Kendo và Iaido trở thành những môn riêng biệt. Kendo ngày nay ta thấy phát triển như một môn thể thao, dù người luyện tập cũng thực hành các bài Kata 型 (hình) gồm các đòn thế chém đâm đỡ tiến lùi... Còn Iaido chỉ chuyên thực tập các bài tập kata: rút kiếm, chém, rảy máu, tra kiếm vào vỏ. Và ở Nhật vẫn còn hàng trăm trường phái Kendo, cũng như hàng trăm trường phái Iaido.



Kiếm là một trong những vũ khí được con người sử dụng nhiều nhất trong thời phong kiến, khắp nơi từ Âu sang Á. Vũ khí và binh giáp của người Nhật ngày xưa có chịu ảnh hưởng phần nào từ Trung Quốc,trong đó có thanh kiếm. Khi xông trận, các kỵ sĩ trang bị áo giáp, mũ trận dày nặng, một tay cầm yên ngựa, tay kia cầm kiếm. Thanh kiếm thời đó có hình dạng thẳng, cấu trúc đơn giản, thường dùng để chém và đâm, động tác chiến đấu cũng chưa được tinh xảo. Theo truyền thuyết thì đến thế kỷ thứ 8, thanh kiếm với lưỡi hơi lượn cong, cán dài cấu trúc đặc thù Nhật bản được một thợ rèn tên là Amakumi chế tạo tạI tỉnh Yamoto. Song, theo những tài liệu đáng tin cậy hơn, thanh kiếm cong độc đáo như ngày nay chúng ta thấy xuất hiện vào thế kỷ thứ 10 (năm 940) dưới thời Heian do một nghệ nhân tài ba về nghề luỵên kiếm tên là Hoki rèn. Đây chính là loại kiếm được sáng tạo và rèn luyện rất công phu, chủ yếu để sử dụng bằng cả 2 tay khi chiến đấu. Đương nhiên, kèm theo đó là một số kỹ thuật công, thủ cơ bản cũng được giới thiệu. Nhận thức được sự lợi hại của thanh kiếm mới, nhiều kiếm sư và kiếm sĩ bèn làm một cuộc cách tân về vũ khí và chiêu thức tập luyện. Trước tiên nó được dùng trong các buổi giao đấu giữa các kiếm thủ và dần sau đó trở nên phổ biến trong quân đội thuộc quyền các lãnh chúa và dùng trên chiến trường ở qui mô lớn, bởi nó có hiệu quả đặc biệt hơn hẳn loạI kiếm thẳng. Đã có kiếm dài (trường kiếm-tachi, hay còn gọi là katana) thì phải có kiếm ngắn và thanh đoản kiếm (kodachi, hay còn gọi là wakizashi) được chế tạo cũng theo kiểu dáng cong cong tương tự. Kiếm ngắn chỉ sử dụng khi lâm nguy (mất kiếm dài ) và để dùng trong nghi thức seppuku (mổ bụng tự sát, 1 hành động vì danh dự của samurai, hay còn gọi là harakiri)

Có thể nói từ đây môn kiếm thuật Nhật bản Kenjutsu với những đặc trưng riêng đã được hình thành. Những kiếm sĩ thành danh thường xây dựng hệ thống kỹ thuật riêng để lập nên những trường phái, rồi cứ thế được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Tinh hoa nghệ thuật cũng theo đó dần dần phát triển thêm lên. Tuy nhiên phảI đến cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15, bài tập đối luyện kiếm thuật (kata) với tổ hợp động tác công-thủ-phản công có qui ước mới được đưa vào hệ thống nghiên cứu huấn luyện.Và vào cuối thế kỷ 15, kiếm gỗ (bokken) mới được đưa vào sử dụng trong những buổi tập luyện. Thời này lý thuyết chung về kiếm thuật đã được hoàn thiện nhằm mục đích huấn luyện giới samurai. Không chỉ vậy, lý thuyết này còn được kết hợp với tư tưởng Nho giáo để xây dựng một triết lý về phong cách sống và hành động của giới võ sĩ đạo (bushido). Theo một số thư tịch cổ thì từ thế kỷ 15-17 trên toàn nước Nhật có khoảng 600 trường phái kiếm thuật, chưa kể các môn võ thuật khác. Những trường phái này cũng là nơi cung cấp nhân tài phục vụ đắc lực cho các vị lãnh chúa hoặc Tướng quân (shogun)

Thế kỷ 16-17 đánh dấu một bước phát triển của nghệ thuật sử dụng kiếm. Khởi đầu từ kiếm sư Shekisu-sai (1527-1606), người sáng lập trường phái Yagyu Shinkage, được tướng quân Tokugawa Ieyashu bảo trợ. Trước đó thanh kiếm chỉ được xem như là một vũ khí giết người và người ta luyện tập cũng vì mục đích ấy. Nhưng do Shekisu-sai có kiến thức có kiến thức về đạo học và mốI liên hệ gần gũi với thiền sư Takuan (1573-1645), ông đã truyền giảng cho môn sinh khái niệm về sự cảm nhận tâm linh đạt được qua việc luyện tập kiếm thuật. Người con ông là Munenori (1571-1646), một kiếm sĩ tài ba, đã biên soạn Fudochi-Shinmyoroku, nội dung kể về kinh nghiệm trực ngộ Thiền đạo trong kiếm thuật. Yagyu Shinkage, cũng như Maniwa Nen, Shinkatato… là những trường phái tiên phong trong khuynh hướng chuyển từ Kiếm đạo sang Kiếm thuật (Kendo); đồng thời đưa kiếm tre (shinnai) vào tập luyện, thi đấu để hạn chế tốI đa những thương tích, tử vong do kiếm thật bằng thép và cả kiếm bằng gỗ cứng gây nên. Kiếm tre ban đầu được chế tạo bằng cách dùng 4 mảnh tre dài ghép lạI đút vào 1 cái bao dài bằng da cóc hoặc da bò thuộc,chưa có miếng là chắn che tay (tsuba). Về sau được Nakanishi Chuba,môn đệ của Ono Tadaaki cải tiến với bao vải thay thế bao da, thêm miếng lá chắn vào, và trọng lượng-kích thước gần bằng kiếm thật, song có hình dạng thẳng.



Làng kiếm đạo Nhật bản ghi nhận 1 điểm son lịch sử với kiếm sĩ huyền thoại Miyamoto Musashi. Sinh năm 1584, thụ giáo kiếm thuật với thân phụ từ khi còn thơ ấu, năm 13 tuổi Musashi đã sớm đạt được vinh quang khi đánh bại 1 đấu thủ lớn hơn cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề trong 1 cuộc tranh tài trước mặt nhiều cao thủ. Từ đó về sau, trải hơn 60 trận thư hùng trên khắp nước Nhật, chưa 1 tay kiếm nào thủ hoà nổi trước lưỡi kiếm của Musashi. Năm 29 tuổi , sau trận đấu để đời với kiếm thủ thượng thừa Sasaki Kojiro mà chiến thắng vẫn thuộc về ông, Musashi rời bỏ chốn võ lâm lui về ẩn cư. Ông dốc toàn tâm toàn lực suy nghiệm để khám phá chân lý. Hơn 20 năm sau, ở tuổI 50, con người bất khả chiến bại ấy đã giác ngộ. Vào tuổi lục tuần, Musashi viết tác phẩm Gorin-no-Sho (Ngũ luân thư), bao hàm khái luận về Kiếm đạo của ông (không phải kiếm thuật), với lý thuyết chiến lược và triết lý cuộc sống. Tác phẩm này được xem như kinh điển, không chỉ trong võ thuật mà còn với công việc quản trị, và hơn thế nữa là cách sống.

Đến thế kỷ 18, ngoài kiếm tre và sàn tập bằng gỗ trở nên phổ biến tại các trường phái dạy kiếm, các dụng cụ hỗ trợ luyện tập như giáp che ngực, mặt nạ, mũ che đầu, găng tay bảo vệ… cũng được cách tân từ binh giáp truyền thống để trang bị cho môn sinh. Sang thế kỷ 19, Kendo phát triển rộng trong quần chúng cũng như nhiều môn võ khác, không còn thu hẹp trong giới Samurai. Vào giữa thế kỷ này, nhiều cuộc biễu diễn kiếm đạo được tổ chức cho công chúng xem tại nơi công cộng, có thu tiền. Không ít kiếm sư giương danh võ lâm qua những cuộc lưu diễn và thách đấu với người khác. Nhưng chỉ vài thập niên sau, khi văn minh cơ giớI phát triển. Súng ống, đạn dược nhanh chóng chiếm lĩnh vị trí trên chiến trường. Thanh kiếm oanh liệt suốt bao thế kỷ chỉ còn tồn tại bên người quân nhân với công dụng thứ yếu (đánh giáp lá cà) hoặc như 1 biểu tượng quyền hành chỉ huy. Đồng thời về mặt xã hội, thời điểm các lãnh chúa bị Minh Trị thiên hoàng thu hồi quyền lực cũng chính là lúc kết thúc thờI vàng son của giới samurai. Những kiếm thủ phải về vườn hoặc chuyển nghề, nhiều môn phái phải đóng cửa. Tình trạng này khiến các bậc thầy tâm huyết với kiếm đạo lo âu không ít.

Trong bối cảnh đó, một sự kiện lớn gây chấn động làng võ Nhật đã xảy ra vào năm 1882 : võ sư Jigoro Kano, một thiên tài võ thuật trẻ tuổi bắt đầu truyền bá môn Nhu đạo ( Judo ) mà ông đã dày công nghiên cứu,sáng tạo sửa đổI thêm từ môn Nhu thuật ( Jujutsu ) cổ truyền. Thành công nhanh chóng của Kano với môn võ giàu tính thể thao, được xem như đạt tiêu chuẩn cao về giáo dục tinh thần và thể xác theo xu thế thời đại mới, đã trở thành nguồn cảm hứng khơi dậy ngọn lửa trong lòng các kiếm sư. Kiếm đạo bắt đầu thâm nhập vào học đường, tại một số trường trung học và đại học. Năm 1912, cùng với Nhu đạo, Kiếm đạo được chính thức đưa vào chương trình huấn luyện thể dục ở bậc trung học áp dụng trên toàn nước Nhật. Năm 1928, liên đoàn kiếm đạo Japanese được thành lập, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉnh lý hệ thống tổ chức, kỹ thuật, phương pháp huấn luyện, điều luật thi đấu… Môn sinh theo học ngày một đông hơn,phát triển sang các nước lân cận và cả châu Âu, châu Mỹ. Năm 1971, liên đoàn Kiếm đạo quốc tế ( International Kendo Federation-IKF) được thành lập, và cũng từ đây giảI vô địch kiếm đạo thế giới được tổ chức theo thông lệ 3 năm 1 lần (có tư liệu khác cho rằng IKF được thành lập năm 1970 và mớI đầu là tổ chức 2 năm/lần). Hiện nay số members của IKF bao gồm 37 đơn vị liên đoàn và hiệp hội thuộc hơn 30 nước trên thế giới (chưa có VN ).

Một chi tiết đáng ghi nhận là trong quá trình phát triển môn Kiếm đạo hiện đại có sự đóng góp ở mức độ nhất định của tổ sư môn Judo Jigoro Kano. Ông là người đặt ra hệ thống đẳng cấp (dan-kyu) được áp dụng ngày nay. Chính liên đoàn kiếm đạo nhật bản JKF (Japan Kendo Federation) cũng thừa nhận điều này vào năm 1958. Là một nhà sư phạm lớn, mộ đại sư thấm nhuần triết lý võ đạo, Kano luôn sẵn sàng hỗ trợ,tạo điều kiện cho các môn phái võ thuật đồng hành phát huy vì sự nghiệp giáo dục chung, không chỉ với kiếm đạo mà với cả Không thủ đạo ( Karatedo ). Khi võ sư Gichin Funakosi từ đảo Okinawa đến Tokyo để truyền bá nghệ thuật này, Kano đã dành cho người đồng đạo võ lâm một phần diện tích tại võ đường Kodokan (Giang đạo quán) của ông để mở lớp dạy Karatedo trong nhiều năm.

Theo Uky.Kendo
Về Đầu Trang Go down
 
Kendo - Tinh hoa kiếm thuật Nhật Bản
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Giáo trình môn Kỹ Thuật Điện Tử
» Giải thích thuật ngữ
» Xác định vị trí tàu bằng định tinh trên tuyến Hải Phòng - Hòn Gai
» Mẫu nhân vật dere lý tưởng của bạn là gì? =)) Bạn là dere nào? =))
» Câu lạc bộ thơ (thơ tình, thơ đối, thơ châm... có hết)

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Defensive-Fighting Club :: Trung tâm DFC :: Hình ảnh - Tài liệu tham khảo.-
Chuyển đến